Giới thiệu
Nuôi dưỡng gia cầm trong bối cảnh lệnh cấm kháng sinh mang đến những thách thức, nhưng cũng có những cơ hội để thay thế sự lệ thuộc này. Dinh dưỡng là giải pháp lựa chọn nhiều hơn cho việc cung cấp các chất dinh dưỡng để đáp ứng yêu cầu cho năng suất tối đa.
Bài tóm tắt lược dịch trong tạp chí poultryworld.net do Carlos de la Cruz biên soạn (4/2019) với tiêu đề “Optimising feeding for egg production” viết về vai trò của các chất dinh dưỡng từ sự lựa chọn nguyên liệu thô đầu vào, các chất phụ gia cộng thêm và hệ sinh thái vi khuẩn ruột lý tưởng sẽ hỗ trợ cho sự tiêu hóa và hấp thu cao nhất. Việc đảm bảo một chức năng tối ưu của hệ thống tiêu hóa là rất quan trọng cho sản xuất trứng thành công. Các phần nội dung chủ yếu của bài tóm tắt lược dịch được trình bày dưới đây.
Sản xuất thực phẩm an toàn
Mọi người nhận thức được các vấn đề về an toàn thực phẩm do các vụ bê bối thực phẩm cao cấp có liên quan đến ngành chăn nuôi. Ngày nay, công chúng, các cơ quan quản lý của chính phủ và ngành công nghiệp thức ăn gia súc đang làm việc để đáp ứng mong đợi cho việc sản xuất các sản phẩm chất lượng, an toàn. Sự thay đổi theo hướng sử dụng ít kháng sinh trên toàn thế giới mang đến cơ hội mới để cải thiện sức khỏe đường ruột thông qua dinh dưỡng để tăng cường sức khỏe trong ngành sản xuất trứng.
Để thể hiện tiềm năng di truyền của động vật, bộ máy tiêu hóa phải hỗ trợ tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng tối ưu, giảm thiểu bệnh đường tiêu hóa, ổn định và điều chỉnh tích cực hệ sinh thái vi khuẩn và cho phép gia cầm có thể tăng cường đáp ứng miễn dịch hiệu quả. Các cơ hội để tối ưu hóa sức khỏe đường ruột của các mái hậu bị và mái đẻ, ngăn chặn những tổn thương gây bệnh có thể làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến năng suất mà thường bị bỏ sót.
Những thách thức về sức khỏe ruột trong sản xuất trứng
Trong chuồng nuôi, gia cầm thường bị phơi nhiễm với các tác nhân gây stress liên tục (chương trình tiêm phòng, cắt mỏ, xử lý bệnh, v.v.) điều này dẫn đến giảm ăn vào. Ngoài ra, trọng tâm là sự đồng đều của đàn, trọng lượng cơ thể và sự thành thục sinh dục ở độ tuổi dự kiến. Sự phát triển của đường ruột (sinh lý và miễn dịch) và hệ sinh thái vi sinh vật thường không được xem xét. Trong một số trường hợp, gia cầm được điều trị một cách có hệ thống bằng kháng sinh trong năm ngày đầu tiên vào chuồng nuôi, khi đường tiêu hóa của chúng vẫn còn trong tình trạng chưa hoàn thiện và sự thiết lập hệ vi khuẩn ruột là một trận chiến khó khăn.
Những thách thức vốn có trong sản xuất trứng, kết hợp với stress sinh lý do những thay đổi của nội tiết tố, gây khó khăn để đạt được sự sử dụng thức ăn tối ưu và sản lượng tối đa trong khi duy trì chất lượng trứng. Hơn nữa, thực tế là nhiều đàn trong sản xuất bị thiếu tính đồng nhất, viêm ruột do vi khuẩn, viêm ruột hoại tử (NE), rối loạn vi khuẩn ruột (mất cân bằng vi khuẩn) và hoại tử tá tràng khu trú. Trong chu kỳ sản xuất sau đó, những thách thức tiếp theo phải đối mặt với ruột bị rò rỉ và giảm chiều dài lông ruột có liên quan đến việc giảm sự hấp thụ chất dinh dưỡng, chủ yếu là các khoáng chất. Kết quả là, trứng bị nứt tăng, vết nứt nhỏ và trứng bẩn được nhìn thấy, cộng với việc giảm tổng số lượng trứng.
Bệnh cầu trùng được xếp hạng là mối đe dọa quan trọng nhất trong quá trình nuôi, bất kể hệ thống chuồng nuôi (nuôi lồng hay không lồng), theo một cuộc khảo sát được thực hiện vào năm 2014 bởi Hiệp hội bác sĩ thú y sản xuất trứng ở Mỹ. Điều cũng được nhấn mạnh về bệnh tiêu chảy do E. coli (colibacilosis) là vấn đề chính ở các mái đẻ nuôi chuồng lồng. Những người tham gia khảo sát đã chỉ ra rằng các vấn đề về đường tiêu hóa chịu trách nhiệm 50% về các vấn đề sức khỏe của đàn khi gia cầm đang sản xuất và 40% khi chúng còn đang sinh trưởng. Các vấn đề sức khỏe khác cũng được đề cập là các bệnh do virus liên quan đến hệ hô hấp. Điều quan trọng là không bỏ qua thực tế rằng những thách thức như vậy có thể gây ra các bệnh thứ cấp do vi khuẩn, dẫn đến những thiệt hại về năng suất.
Nếu chức năng đường ruột bị tác động do mầm bệnh, không chỉ có phản ứng miễn dịch mà còn có sự thay đổi về tốc độ di chuyển, tiêu hóa, bài tiết chất nhầy và sự tăng tỷ lệ thay thế của biểu mô ruột. Vì lượng ăn vào bị giảm, nhu cầu dinh dưỡng để duy trì cao hơn, khi các chất dinh dưỡng được chuyển hướng để tăng cường hệ thống miễn dịch. Năng lượng và chất dinh dưỡng được sử dụng để đáp ứng miễn dịch đủ mạnh để đẩy lui bệnh tật, kết quả là hệ sinh thái vi khuẩn bị xáo trộn, làm giảm hấp thu và tiêu hóa chất dinh dưỡng, tăng hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và kích thích quá mức hệ thống miễn dịch. Kết quả là chúng kích hoạt bệnh viêm ruột và gây thiệt hại năng suất đáng kể.
Những mái đang đẻ có thể tối đa hóa hiệu quả sử dụng thức ăn để sản xuất trứng, khi ruột khỏe mạnh được phát triển. Ruột khỏe mạnh có thể được định nghĩa là “một trạng thái ổn định trong đó hệ vi sinh vật và đường ruột tồn tại ở trạng thái cân bằng cộng sinh và nơi mà sự bảo vệ và năng suất của vật nuôi không bị hạn chế bởi rối loạn chức năng ruột”. Không chỉ ruột là cơ quan chính để tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng, nó còn hoạt động như một cơ chế bảo vệ đầu tiên đối với các mầm bệnh ngoại sinh có thể xâm nhập hoặc đi vào các mô tế bào vật chủ. Ruột là cơ quan miễn dịch lớn nhất trong cơ thể, do đó, ruột mạnh mẽ hơn sẽ dẫn đến một vật nuôi khỏe mạnh hơn mà nó có thể tối ưu hóa các chất dinh dưỡng tốt hơn.
Quản lý sức khỏe đường ruột thông qua dinh dưỡng
Chất xơ thô đã được coi là một chất dinh dưỡng trơ ở động vật dạ dày đơn. Tuy nhiên, đây không ở trường hợp này, vì nó có thể có vai trò trong việc cải thiện sức khỏe đường ruột, tăng cường tiêu hóa chất dinh dưỡng và điều hòa hoạt động. Một hạn chế tối thiểu phải được thiết lập, ví dụ 5% trong khẩu phần ăn cho gà đang đẻ. Bên cạnh lượng chất xơ trong khẩu phần, có những lợi ích cho hệ tiêu hóa của gia cầm khi được cho ăn các hạt thô. Những đàn được nuôi với các hạt lớn hơn sẽ phát triển mề lớn hơn và đường ruột dài hơn. Các tiểu phần (hạt) thức ăn thô đòi hỏi nhiều thời gian hơn trong mề để được nghiền thành các hạt nhỏ hơn, trước khi chúng có thể đi vào ruột non. Tăng thời gian lưu giữ sẽ kích thích giảm pH và có tác dụng diệt khuẩn. Các hạt thức ăn lớn hơn có thời gian di chuyển lâu hơn qua ruột, giúp cải thiện chiều dài của vi lông ruột (microvilli) và tăng diện tích bề mặt hấp thụ trong ruột, do đó ảnh hưởng tích cực đến khả năng tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng.
Các mái đẻ có sở thích chọn ăn các phần hạt lớn hơn và sở thích này trở nên mạnh hơn theo tuổi. Do đó, tập tính của gà mái cũng được cải thiện, không chỉ do gia cầm phải dành nhiều thời gian để ăn, mà còn bởi vì chúng có ít thời gian hơn cho các tật xấu như mổ lông hay ăn thịt đồng loại. Thức ăn có chứa nguyên liệu bột mịn cao cần nên tránh. Gia cầm thấy khó khăn hơn để tiêu thụ tốt lúa nghiền mịn; và, một khi được tiêu thụ, có một dòng chảy trực tiếp qua mề mà không có sự tận dụng nào. Do đó một thức ăn có kích thước hạt lớn hơn là điều mong muốn. Việc bổ sung hai phần trăm dầu cũng giúp đạt được thức ăn đồng nhất với sự phân bố các tiểu phần hạt tối ưu.
Protein khẩu phần ảnh hưởng đến sức khỏe đường ruột
Vai trò chính của acid amin từ thức ăn cho vật nuôi là cho sự sinh trưởng và phát triển của các cơ quan và mô, chủ yếu để phục vụ như là các khối xây dựng trong sự tổng hợp protein. Tuy nhiên, các acid amin cũng rất cần thiết trong nhiều đường trao đổi chất để điều chỉnh các chức năng sinh lý và điều chỉnh phản ứng trong hệ thống miễn dịch của cơ thể; chất nhày mucin, tế bào biểu mô, kháng thể, các enzyme, hormone, v.v.
Tuy nhiên, một tỷ lệ acid amin và nitơ không phải là acid amin được cung cấp qua thức ăn không được xử lý tốt trong đường tiêu hóa, tạo ra chất nền cho vi khuẩn và độc tố cho vật nuôi. Do đó, nguyên liệu này có thể gây tổn thương hồi tràng, làm cho sự phát triển quá mức của vi khuẩn gây bệnh, làm mất cân bằng hệ sinh thái ruột, kích thích ruột, rối loạn vi khuẩn ruột và trong một số trường hợp viêm ruột hoại tử cận lâm sàng. Các tiểu phần hạt protein lớn và không hòa tan mà không được vật nuôi đồng hóa, đi đến ruột già, thoát khỏi hệ thống tiêu hóa qua phân. Tuy nhiên, các hạt protein nhỏ và hòa tan đi qua ngã ba hồi tràng vào manh tràng, nơi xảy ra sự phân giải (khử chất) và các amoniac, amin, indole và acid béo chuỗi phân nhánh được sản sinh ra. Các hợp chất này có thể gây độc hại và rắc rối.
Bảng 1. Khuyến cáo đối với các acid amin tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn cho gà đẻ. AMINOHen,% khẩu phần & acid amin ăn vào hàng ngày / mg nhu cầu acid amin tiêu hóa cho gà đẻ và hàm lượng tối ưu trong thức ăn (100g) ăn vào hàng ngày.
| Lys | Met | Met+Cys | Thr | Trp | Arg | Ile | Val |
Tỷ lệ với lysine | 100 | 50 | 91 | 70 | 21 | 104 | 80 | 88 |
Ăn vào, mg/ngày AA tiêu hóa | 831 | 415 | 756 | 582 | 174 | 864 | 665 | 731 |
Vượt quá mức protein (dư thừa) không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn tạo ra các vấn đề về sức khỏe ở gia cầm. Tuy nhiên, việc giảm protein thô (tổng nitơ) trong thức ăn phải đi kèm với việc cân bằng mẫu tiêu chuẩn và cung cấp acid amin theo nhu cầu của gia cầm. Dinh dưỡng chính xác (acid amin) bao hàm kiến thức nguyên liệu thô (acid amin), khả năng tiêu hóa, chú ý về về việc xử lý kkhông đầy đủ các nguồn protein và sử dụng các acid amin tinh khiết sẵn có. Cách tiếp cận này sau đó có thể đáp ứng nhu cầu duy trì, các thách thức về sức khỏe và sản xuất trứng mà không thừa nitơ. Sự cân bằng chính xác của các acid amin tiêu hóa, còn được gọi là mẫu acid amin lý tưởng, được thể hiện trong Bảng 1.
Hỗ trợ việc nêu trên, Drew và cs. (2004) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn protein và mức trong khẩu phần đối với quần thể vi khuẩn Clostridium perfringens trong ruột gà thịt. Hai nghiên cứu đã chứng minh rằng mức độ protein thô trong khẩu phần (230 và 400 g/kg) và nguồn protein (protein đậu nành đậm đặc hoặc bột cá làm khô nhiệt độ thấp) của khẩu phần ảnh hưởng đến sự phát triển của quần thể C. perfringens ở phần ruột dưới của gà thịt.
Một sự tương tác đáng kể giữa nguồn và mức protein đã được quan sát, trong đó số lượng C. perfringens có trong hồi tràng và manh tràng tăng lên khi mức protein thô trong khẩu phần tăng ở những gia cầm được ăn khẩu phần có bột cá, (P <0,05) nhưng không ở những gia cầm được ăn khẩu phần có protein đậu nành tinh chế. Điều này cho thấy mức protein thô, nguồn protein và lượng acid amin trong khẩu phần đều có thể là những yếu tố ảnh hưởng đến sự bùng phát của bệnh viêm ruột hoại tử lâm sàng.
PGS Bùi Xuân Mến, Trung tâm RD Vemedim tóm tắt lược dịch.
Tài liệu tham khảo
Cruz C. (2019) Optimising feeding for egg production.
https://www.poultryworld.net/Nutrition/Articles/2019/4/Optimising-feeding-for-egg-production-411581E/?cmpid=NLC|worldpoultry|2019-04-03|Optimising_feeding_for_egg_production_


