Giới thiệu
Nhu cầu của người tiêu dùng toàn cầu đối với thịt gia cầm không có kháng sinh đã gây áp lực lên các nhà cung cấp thực phẩm, do đó, đang thách thức các nhà sản xuất cung cấp sản phẩm đáp ứng các chỉ tiêu kỹ thuật này. Các nhà sản xuất trong lịch sử đã sử dụng các thuốc coccidiostat trong thức ăn để kiểm soát bệnh cầu trùng và các kháng sinh để ngăn chặn các bệnh do vi khuẩn (ví dụ như viêm ruột hoại tử do Clostridial perfringens và mầm bệnh ở người như Salmonella spp. và E. coli). Các phương pháp điều trị bằng liệu pháp hóa trị không còn được cho ăn thông thường trong thức ăn ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở Liên minh châu Âu (EU) và hiện chỉ được quản lý theo quyết định của bác sĩ thú y để kiểm soát một thách thức của bệnh cụ thể. Như vậy, các nhà sản xuất đang tìm kiếm các lựa chọn thay thế an toàn, tự nhiên và đã được chứng minh.
Bài tóm tắt lược dịch trong tạp chí poultryworld.net do Jules Taylor-Pickard biên soạn (1/2019) với tiêu đề “Antibiotic free poultry: how to feed them?” viết về bước vào kỷ nguyên mới, các nhà chăn nuôi đang chuyển sang phương thức sản xuất bằng cách hạn chế, không có kháng sinh hoặc không bao giờ dùng kháng sinh. Đặc biệt với các nhà sản xuất gia cầm, điều này có nghĩa là một cuộc tìm kiếm các lựa chọn thay thế để đảm bảo an toàn, tự nhiên và đã được chứng minh cho đàn gia cầm của họ. Nội dung của bài tóm tắt được trình bày ở các phần dưới đây.
MOS thế hệ tiếp theo
Các lựa chọn thay thế của khẩu phần tự nhiên, chẳng hạn như mannan oligosacarit (MOS) có nguồn gốc từ thành tế bào của nấm men Saccharomyces cerevisiae1026, từ lâu đã được công nhận về khả năng của chúng ngăn chặn sự xâm nhập của mầm bệnh đường ruột như các loài Salmonella và E. coli ở gia cầm (Rosen và cs., 2007). Phần chiết giàu manan thuộc thế hệ thứ hai (MRF), dẫn xuất từ MOS được tinh chế hơn và có thể bao gồm ở các nồng độ thấp hơn trong khẩu phần ăn của gia cầm nhưng cho cùng lợi ích. Ví dụ, một thử nghiệm được thực hiện bởi Mathis (2011) tại cơ sở Nghiên cứu Gia cầm phía Nam, Georgia, cho thấy các kết quả tích cực về thể trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) ở gà thịt được cho ăn MRF, so với những gà được cho ăn đối chứng không được bổ sung (đối chứng âm) (Bảng 1).
Bảng 1: Hiệu quả của việc cho gà thịt ăn khẩu phần chứa MRF hoặc kháng sinh (BMD) đến năng suất (Mathis, 2011). (Các trị số không cùng chữ trong hàng khác biệt có ý nghĩa P<0,05).
| Đối chứng | MRF | BMD |
Ngày 21: FCR | 1,336a | 1,313b | 1,317b |
Ngày 21: Trọng lượng (kg) | 0,735a | 0,737a | 0,740a |
Ngày 35: FCR | 1,727a | 1,681b | 1,686b |
Ngày 35: Trọng lượng (kg) | 1,566b | 1,613a | 1,611a |
FCR | 1,814a | 1,767b | 1,782b |
Trọng lượng (kg) | 2,081b | 2,134a | 2,124a |
Tỷ số chất độn có thể được sử dụng như một chỉ số về tình trạng sức khỏe và bệnh tật của gia cầm, chất độn ướt là một vấn đề lớn trong sản xuất thương phẩm. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cho gà ăn MRF cải thiện đáng kể tình trạng của chất độn khi được so với đối chứng (P <0,05). Tỷ số chất độn ở những gia cầm được ăn Bacitracin MD không có ý nghĩa thống kê đối với những gà được ăn MRF (Mathis, 2011). Một phân tích tổng hợp được thực hiện bởi Hooge và cs. (2013) phát hiện ra rằng MRF có hiệu quả trong việc thúc đẩy năng suất cho gà thịt do sự gia tăng đáng kể thể trọng trung bình (+ 0,08 kg) và giảm hệ số chuyển hóa thức ăn trung bình (-0,033). Bảng 2 cho thấy kết quả phân tích tổng hợp cho tất cả các thử nghiệm so sánh liên quan đến các sản phẩm MRF được thực hiện bởi Hooge và cs. (2004), Rosen (2007), Hooge và cs. (2009) và các kết quả gần đây hơn (Hooge và cs. 2013). Các nhóm được cho ăn MRF có năng suất gà thịt tương đương thống kê so với các nhóm được cho ăn kháng sinh, cho thấy tiềm năng thay thế kháng sinh bằng các biện pháp thay thế tự nhiên.
Bảng 2a: So sánh các phân tích tổng hợp và đám mây về gà thịt được ăn các chất phụ gia cộng thêm trong thức ăn khác nhau. (Khác biệt do Bio-MOS hoặc bổ sung Actigen với khẩu phần đối chứng âm).
| Hooge (2004) | Rosen (2007) | Hooge (2009) | Hooge (2013) |
Thành phần kỹ thuật | Bio-MOS | Bio-MOS | Bio-MOS | Actigen |
Số các so sánh | 44-26 | 82-44 | 48-27 | 29-20 |
Thể trọng hoặc tăng trọng | +1,75% | +1,5% | +2,43% | +3,34% |
FCR (TĂ/tăng trọng) | -1,9% | -2,1% | -1,8% | -1,8% |
Tỷ lệ chết, % | -16,4% | +0,4% | +1,4% | -12,5% |
Bảng 2b: So sánh các phân tích tổng hợp toàn phần về gà thịt được ăn các chất phụ gia cộng thêm trong thức ăn khác nhau. (Khác biệt do Bio-MOS hoặc bổ sung Actigen với khẩu phần kháng sinh).
| Hooge (2004) | Hooge và cs. (2013) |
Thành phần kỹ thuật | Bio-MOS | Actigen |
Số các so sánh | 26-20 | 29-20 |
Thể trọng hoặc tăng trọng | -0,32% | -0,19% |
FCR (TĂ/tăng trọng) | -0,11% | 0,0% |
Tỷ lệ chết, % | -18,1% | -0,82% |
Bệnh đường ruột do nhiều yếu tố ở gia cầm
Với việc loại bỏ kháng sinh phòng ngừa, điều trị các bệnh nhiễm trùng nhiều yếu tố, chẳng hạn như bệnh cầu trùng, một vấn đề phổ biến trong chăn nuôi gia cầm và sự bùng phát do nhiễm Campylobacter vẫn còn là một thách thức (Williams, 2005). Các chủng đơn bào Eimeria spp. khác nhau xâm lấn các vùng khác nhau ở niêm mạc ruột của gia cầm, gây tổn thương cấu trúc, viêm và tăng tiết chất nhầy. Sự gây hại như vậy dẫn đến kém hấp thu chất dinh dưỡng, tiêu chảy và trong trường hợp nghiêm trọng, tỷ lệ tử vong cao (Sandu, 2018). Trên toàn cầu, người ta ước tính rằng tổn thất tài chính do bệnh cầu trùng đứng hàng đầu với hơn 3 tỷ đô la Mỹ hàng năm (Dalloul và cs., 2006). Các nhà sản xuất gia cầm đã được khuyến khích sử dụng các chiến lược quản lý cải tiến và các lựa chọn thay thế của khẩu phần tự nhiên, chẳng hạn như MRF kết hợp với các thành phần có hoạt tính đường ruột khác, bao gồm các chất chiết xuất thực vật, để giảm các tác động tiêu cực và nguy cơ sức khỏe cộng đồng của các bệnh này. Các nghiên cứu của Duffy và Tucker (2003) đã chỉ ra rằng sự kết hợp giữa MRF và chiết xuất thực vật (MRF-PL) làm giảm sự bài xuất kén hợp tử của Eimeria spp. khoảng 14% và cải thiện FCR từ 1,77 lên 1,73 ở gà thịt được gây nhiễm, mặc dù chúng đã được chủng vaccin phòng bệnh cầu trùng.
Bệnh đầu đen
Một mầm bệnh nguyên sinh khác ảnh hưởng chủ yếu đến gia cầm là bệnh đầu đen, thường liên quan đến bệnh đầu đen (BD) ở gà Tây. Ký sinh trùng đơn bào Histomonas meleagridis kết hợp với E. coli gây viêm ruột-gan truyền nhiễm, theo đó các động vật nguyên sinh và vi khuẩn tái tạo trong ruột, xâm nhập vào máu qua manh tràng và tạo ra các tổn thương lâm sàng ở gan của gia cầm (Bradley và Reid, 1966 ). Mối liên hệ giữa động vật nguyên sinh và vi khuẩn thấy trong bệnh BD cho thấy rằng việc điều biến hệ vi sinh vật đường ruột và tăng cường tổng thể sức khỏe đường ruột có thể có lợi trong việc ngăn ngừa và giảm các triệu chứng lâm sàng và tỷ lệ chết. Cùng nhiễm các bệnh cầu trùng và bệnh đầu đen sẽ gây ra ảnh hưởng kinh tế nghiêm trọng do bệnh lâm sàng (Macdougald và Hu, 2001). Các thử nghiệm với gà thịt bị nhiễm bệnh đầu đen (Duffy và Tucker, 2006; Bảng 3) đã chỉ ra rằng MRF và chất chiết thực vật vượt trội so với thuốc được sử dụng phổ biến là Histuler ™ trong cả FCR và tỷ lệ chết và giảm triệt để tổn thương manh tràng và gan ở gà thịt.
Bảng 3: Tỷ số năng suất và tổn thương của gà thịt 42 ngày tiếp xúc với kí sinh histomonas trong chất độn và ảnh hưởng của thuốc thường được sử dụng phổ biến hoặc MOS. (giá trị không cùng chữ khác biệt có ý nghĩa P<0,05).
| Đối chứng (không gây nhiễm) | Gây nhiễm | Gây nhiễm + Histostat™ | Gây nhiễm + MRF-PL |
Tăng trọng 0-42 ngày (kg) | 1.709 | 1.612 | 1.860 | 1.683 |
FCR: 42ngày | 2.347 | 2.434 | 2.279 | 2.086 |
Tỷ lệ chết (%) | 8,0 | 16,7 | 26,7 | 3,3 |
Thương tổn manh tràng (0-4) | 0,20c | 1,56a | 0,96b | 0,44c |
Thương tổn gan (0-5) | 0,00b | 0,84a | 0,04b | 0,00b |
Bệnh nhiễm Campylobacter
Bệnh nhiễm Campylobacter là mối quan tâm chính đối với sức khỏe con người từ việc tiêu thụ thân thịt bị ô nhiễm. Gia cầm có thể không bị ảnh hưởng nhưng thường mang mầm bệnh gây bệnh trong ruột của chúng, có thể truyền sang thịt trong quá trình chế biến. Corrigan và cs. (2017) đã chỉ ra (Bảng 4) rằng cho ăn khẩu phần có bổ sung MRF làm giảm đáng kể mức xâm nhập của Campylobacter trong manh tràng gà thịt và do đó, cải thiện tăng trọng so với gà đối chứng. MRF được cho là hoạt động gián tiếp bằng cách thay đổi thành phần của cộng đồng vi khuẩn (Corrigan và cs., 2015) và các cấu trúc ruột (Baurhoo và cs., 2009) hoặc bằng cách tăng cường đáp ứng miễn dịch (Munyaka và cs., 2012).
Bảng 4: Ảnh hưởng của việc cho ăn MRF giàu MOD ở gà thịt được gây nhiễm Campylobacter (Corrigan và cs., 2017).
| Tổng qPCR (log sao chép gen No/g) |
Đối chứng | 6,58±1,54a |
MRF | 5,05±0,89b |
Kết luận
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với khẩu phần ăn không có kháng sinh kích thích sinh trưởng cho gia cầm, để đáp ứng mối quan tâm của người tiêu dùng toàn cầu về tình trạng kháng kháng sinh, cần có các biện pháp thay thế an toàn và tự nhiên để hỗ trợ năng suất suất, sức khỏe và sự bảo vệ cho gia cầm. Các thử nghiệm nghiên cứu sử dụng các thành phần thức ăn tự nhiên đã được chứng minh, chẳng hạn như MRF và chất chiết xuất thực vật, đã cho thấy đây là những giải pháp hiệu quả để kiểm soát các bệnh tiêu hóa làm tổn hại đến sức khỏe của cả gia cầm và con người.
PGS Bùi Xuân Mến, Trung tâm RD Vemedim, lược dịch tóm tắt.
Tài liệu tham khảo
Pickard JT (2019) Antibiotic free poultry: how to feed them?


