Đối tác marketing
VTV Youtube Bao Nguoi chan nuoi TH Ben Tre
GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CÁ Ủ TƯƠI CHO HEO
GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CÁ Ủ TƯƠI CHO HEO
Cập nhật 2018-06-28 09:07:07

Giới thiệu

            Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm hiện nay các sản phẩm chăn nuôi cũng liên tục được sản xuất tăng từ nhiều nguồn. Đang có những rủi ro từ nhiều nguồn thức ăn vật nuôi ngày càng trở nên khan hiếm do biến đổi khí hậu diễn ra, khai thác cạn kiệt và sự cạnh tranh từ các nguồn thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và nhiên liệu. Bên cạnh những chi phí cao của những nguồn thức ăn truyền thống như khô dầu nành và bột cá, tính khả dụng của những nguồn này trong tương lai cũng sẽ bị hạn chế. Điều này đòi hỏi ngành thức ăn cần quan tâm thay đổi theo hướng tìm những lựa chọn thay thế như có thể. Nguồn có tiềm năng protein, cá ủ tươi (cá ủ), dễ thực hiện, kinh tế và giảm thấp những vấn đề môi trường về gom sự thải bỏ. Nó còn có giá trị dinh dưỡng cao đáng kể trong khẩu phần cho heo.

            Bài tóm tắt lược dịch trong tạp chí All About Feed, số 4, 2018 (content.yudu.com) do Matthew Wedzerai biên soạn, với tiêu đề “Nutritional value of fish silage in pigs” viết về cách ủ tươi, sử dụng cá và những phần bỏ đi như đầu và đồ lòng thường làm ô nhiễm môi trường để làm thức ăn protein nuôi heo. Sản phẩm rẻ và đơn giản nhưng giá trị dinh dưỡng có gì và việc áp dụng nuôi heo ra sao sẽ được tóm tắt ở các phần sau đây.   

Chuẩn bị chất liệu cho cá ủ

            Điều thích hợp là bắt đầu với các nguyên liệu thô còn tươi để ủ sẽ giảm thấp lượng cao vi khuẩn có thể dẫn đến mẻ ủ có chất lượng kém. Cũng có ý kiến hay cho rằng làm lạnh cá và những sản phẩm thải bỏ của cá trước khi vận chuyển từ nhà máy chế biến hoặc các thùng chứa đến nhà máy sản xuất cá ủ hoặc thậm chí tốt hơn chế biến ủ cá trong bồn tại biển. Tuy nhiên, vấn đề vi khuẩn là hầu hết không chắc thành công là vấn đề khó giải quyết, chủ yếu với phương pháp ủ acid. Những phương pháp chủ yếu nào được sử dụng cho sản xuất cá ủ?

Phương pháp ủ acid    

            Ủ cá với acid được thực hiện từ các loại cá bỏ hoặc những thứ thải bỏ từ cá, tốt nhất là được chặt nhỏ hoặc nghiền, đặt trong các bể không kim loại (két hoặc bồn giữ chất lỏng) được trộn với dung dịch acid và khuấy trộn nhiều lần hàng ngày trong thời gian 3-5 ngày. Acid này sẽ hạ thấp pH và ngăn chặn sự thối rữa do vi khuẩn, cho phép mẻ ủ dự trữ trong giai đoạn dài hơn. Các acid propionic và formic và các acid khoáng như các acid sulphuric hoặc hydrochloric có thể được dùng. Phương pháp này chủ yếu ức chế sự sinh trưởng vi khuẩn, ngăn chặn sự hư hỏng và tăng tốc phân giải các protein của mô.

Phương pháp lên men     

            Phương pháp này tương tự như ủ với acid, ở phương pháp này, quá trình bảo quản là kết quả việc tăng acid từ sự sinh trưởng của vi khuẩn sản sinh acid lactic. Tiếp theo chặt nhỏ những chất thải bỏ từ cá, những sản phẩm này được trộn với nguồn carbohydrate trong các bể không kim loại trước khi dự trữ trong điều kiện kín khí. Vi khuẩn acid lactic đảm bảo cho sự lên men thích hợp và giảm được sự hư hỏng.  

            Đối với cả hai phương pháp, các thứ sau đây cần áp dụng: ngăn ngừa sự oxy hóa và trở mùi ôi, một chất kháng oxy hóa có thể được thêm vào trong lúc ủ, ethoxyquin hoặc butylated hydroxytoluene (BHT) ở mức 150-200 ppm được dùng phổ biến như các chất kháng oxy hóa.

Những lợi thế của việc sử dụng cá ủ

            Tóm lại, cá ủ đã cho thấy có một số đóng góp hấp dẫn. Theo nghiên cứu hướng dẫn do K.A. Winter và L.A.W. Feltham của đại học Memorial, Canada (1983) cá ủ được thực hiện chủ yếu vì những lý do sau:

1/ Thực liệu đa năng

            Thức ăn cá ủ có thể được sử dụng rộng rãi như nguồn protein cho chồn, cáo, heo, bò, cừu, vật có lông và cá. Tuy nhiên, nó hữu dụng nhất trong khẩu phần của vật độc vị như heo, gia cầm, vật có lông và cá.

2/ Thành phần tiết kiệm

            Một đơn vị sản xuất thức ăn cá ủ có thế có quy mô theo nguồn cấp các chất liệu thô. Ủ cá sử dụng các chất liệu có thể bị đổ đống ngoài khơi gây ô nhiễm. Chất liệu này gồm những sản phẩm thải bỏ của cá như đầu, xương và các cơ quan bên trong, sau đó được dùng cho thức ăn vật nuôi và giảm vấn đề khó giải quyết của môi trường. Mặt khác thức ăn cá ủ có thể được sản xuất ở nơi cấp cá cho sản xuất bột cá thấp hay quá đắt.

3/ Dễ dàng thực hiện

            Chỉ gồm có 3 bước chủ yếu: nghiền, acid hóa và dự trữ, không có vấn đề về lớn  hay nhỏ cho quá trình hoạt động có thể làm.

4/ Thời gian dự trữ kéo dài

            Có thể dự trữ trong những khoảng thời gian kéo dài mà không trở nên bị hư hỏng hay ôi thiu. Sự hiện diện của các acid hữu cơ và khoáng hoặc quá trình lên men làm giảm thấp pH, tạo ra môi trường ức chế sinh trưởng của vi khuẩn và vì thế có thể dự trữ trong thời gian dài các chất liệu thô. Mặt khác, thêm vào các nguồn carbohydrate và điều kiện dự trữ kỵ khí cho phép dự trữ trong thời gian dài. Ngoài ra các chất chống oxy hóa cũng làm tăng thời gian dự trữ bằng việc ngăn ngừa sự oxy hóa và trở mùi ôi.

5/ Giảm thấp các vấn đề về môi trường từ vứt bỏ

            Ủ cá là thực hiện sử dụng các chất liệu có thể gây ra ô nhiễm môi trường. Nó giúp hạn chế những ảnh hưởng của các phương pháp đổ đống thải bỏ ngoài biển theo truyền thống gây ra những vấn đề khó giải quyết về môi trường.

Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cá ủ

            Sự thay đổi về thành phần dinh dưỡng tùy thuộc loại cá, cá bỏ hay phần của cá được chế biến trong thức ăn ủ. Thức ăn ủ cá cũng cung cấp những lượng đáng kể về canxi và phospho. Hầu hết các acid amin vẫn ổn định trong thức ăn ủ có tính acid, dù rằng có thể có những mất mát một số các acid amin trong thời gian dự trữ. Thành phần các acid amin trong thức ăn cá ủ tương tự như trong bột cá được làm từ cùng loại chất liệu thô. Nhìn chung thức ăn cá ủ là nguồn tốt của các acid amin thiết yếu.

Giá trị dinh dưỡng của thức ăn cá ủ  

            Bảng 1 chỉ cho thấy giá trị dinh dưỡng của thức ăn cá ủ từ những nguồn khác nhau cho heo. Có thể thấy rằng thức ăn ủ cá chứa giá trị dinh dưỡng (hợp lý) tốt cho heo; nó tương đương với bột cá. Tuy nhiên, trừ khi thức ăn ủ cá thấp về lượng dầu, nó phải được loại dầu trước khi cho ăn để giảm thấp rủi ro do thịt mang mùi không hấp dẫn hoặc mất mùi; nếu lượng dầu cao, điều được khuyên là thức ăn ủ cá phải được lấy ra khỏi khẩu phần ít nhất 30 ngày trước khi mổ thịt.

Bảng 1: Giá trị dinh dưỡng của bột cá và cá ủ cho heo

Loại                              DE, MJ/kg DM    ME, MJ/kg DM    CP, % DM     % tiêu hóa N tổng số

Cá thải bỏ:                                                                                                

Cá thu                           23,4                     22,6                     52,1               92

Cá nhỏ họ cá thu            17,5                     16,6                     74,1               84

Loại bỏ dầu                  17,9                     -                           67,5               91

Bột  cá:                                                                                                      

62% CP                        16,5                     15,0                     -                     -

65% CP                        17,6                     15,9                     -                     -

70% CP                        18,5                     16,7                     -                     -

Ảnh hưởng của cá ủ trên năng suất heo

            Trong nghiên cứu của E.S batterham và cs. ở Úc vào năm 1983, gồm các khẩu phần dựa vào mì được lập với cá ủ một phần hay hoàn toàn như sự bổ sung protein thay cho khô dầu nành (Bảng 2). Các khẩu phần này được lượng giá cho heo giai đoạn sinh trưởng 20-45 kg. Phân nửa heo được giết mổ lúc 45 kg thể trọng sống; phần còn lại được ăn khẩu phần có khô nành và mì đến 80 kg thể trọng sống để quan sát ảnh hưởng của rút cá ủ ra lúc 45 kg trên năng suất sinh trưởng sau đó. Sự cộng thêm cá ủ đã cải thiện tốc độ sinh trưởng và hệ số chuyển hóa thức ăn trong giai đoạn sinh trưởng 20-45 kg. Trong giai đoạn sinh trưởng 20-80 kg những ảnh hưởng có lợi của cá ủ trên tốc độ sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn vẫn được duy trì.

Bảng 2: Đáp ứng của heo với khẩu phần chứa khô nành, khô nành + cá ủ và cá ủ trong giai đoạn sinh trưởng 20-45 kg

       Chỉ tiêu                                                          Khẩu phần

                                                    Khô nành                   Khô nành + cá ủ       Cá ủ

Giai đoạn 20-45 kg                                                                                         

Tăng trọng, g/ngày                   535                              546                             569

Tăng trọng thân thịt, g/ngày      412                              448                             456

FCR                                           2,24                             2,26                            2,1

Giai đoạn 20-80 kg                                                                                         

Tăng trọng, g/ngày                    597                              603                             639

Tăng trọng thân thịt, g/ngày       492                              500                             531

FCR                                          2,56                             2,50                            2,35

Nhận xét và ứng dụng

            Ở Việt Nam hiện nay, tuy có đường bờ biển rất dài, khai thác xa bờ ít, nguồn cá gần bờ cạn kiệt nên phụ phẩm cá biển không làm thực phẩm không nhiều, vì vậy ít có chương trình ủ cá quy mô như cách bài báo đã dẫn. Tuy nhiên, ở quy mô nhỏ lẻ mang tính chất nuôi nông hộ vẫn có thể áp dụng cá ủ là thức ăn thay thế nguồn protein nhập khẩu như khô đậu nành.

            Tác giả bài viết đã giới thiệu cách ủ cá có vẻ rất khác với cách ủ truyền thống (dùng muối rất nhiều) để ủ mắm cá mặn cho heo (nếu không sẽ bị hư hỏng). Cách dùng các acid hữu cơ hoặc chủng vi khuẩn lên men kỵ khí sản sinh acid lactic, có thể thêm các chất bổ sung khác trong mẻ cá ủ có thể thay thế hoàn toàn khô dầu nành trong khẩu phần heo sinh trưởng là kiến thức rất tốt cho nhà chăn nuôi heo. Đây là cách tận dụng nguồn phụ phẩm ở người chăn nuôi heo đã có kinh nghiệm, không những giảm chi phí mua nguyên liệu nhập khẩu mà còn góp phần giảm ảnh hưởng đến môi trường nếu thải bỏ phụ phẩm không đúng cách.

            Chúng ta đang phát triển ngành cá tra xuất khẩu với lượng phụ phẩm rất lớn từ nhà máy chế biến (gần 70% nguyên liệu). Vì vậy, có thể cần có những thí nghiệm ủ cá khoa học và quy mô, sử dụng sản phẩm như nguồn thay thế đậu nành để tìm ra hiệu quả và có thể là nguồn thay thế đậu nành bền vững. Ủ cá cũng là khâu khép kín trong quy trình chăn nuôi và tận dụng phụ phẩm. Sử dụng nhiên liệu như nguồn nhiệt chế biến trong khâu nấu và sấy để tách các thành phần thịt, xương mỡ làm cho chi phí giá thành sử dụng phụ phẩm tăng cao ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi

PGS Bùi Xuân Mến, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vemedim.

Tài liệu tham khảo

Wedzerai M (2018) Nutritional value of fish silage in pigs

https://content.yudu.com/web/1r3p1/0A1zifp/AAF1804/html/index.html?page=6&origin=reader

t g
0775 009 169
m