Đối tác marketing
VTV Youtube Bao Nguoi chan nuoi TH Ben Tre
15 CHỈ TIÊU ĐỂ XEM XÉT KHI ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG CÁC THÀNH PHẦN THAY THẾ
15 CHỈ TIÊU ĐỂ XEM XÉT KHI ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG CÁC THÀNH PHẦN THAY THẾ
Cập nhật 2018-07-27 03:31:27

Giới thiệu

            Thức ăn tương ứng với gần 70% chi phí sản xuất vật nuôi, vì thế tất cả các cơ hội để giảm chi phí thức ăn cần phải được xem xét và vốn hóa. Tại các thời điểm ở các năm vừa qua, chúng ta thấy có sự tăng thêm đáng kể và bất ổn định về giá cả của những thành phần thức ăn chủ chốt. Cách nay 10 năm, chi phí về bắp và khô dầu nành có báo giá lệch đáng kể và gần đây hơn chúng ta thấy tình trạng tương tự ở thị trường khoáng và vitamin.              

            Bài tóm tắt lược dịch trong biomin.net do Lesley Nernberg biên soạn (6/2018) với tiêu đề “15 factors to consider when evaluating and using alternative ingredients” viết về những biến động về giá thực liệu thức ăn truyền thống đã làm cho các nhà lập công thức thức ăn hết sức quan tâm về định giá và giá trị của các thành phần thức ăn khác nhau trên thị trường. Về điều này chúng ta cần tập trung không chỉ trên những cơ hội mua những thành phần chủ yếu về bắp, mì, khô nành mà còn xem xét đến những thành phần thay thế nào đó có sẵn trên thị trường. Cách sử dụng các thức ăn thay thế cần dựa vào những đặc điểm nào sẽ được trình bày ở các phần tóm tắt dưới đây.

Diễn giải về thành phần thức ăn thay thế

            Không có sự xác định chính xác nào về thành phần thay thế như thứ mà có thể được xem như chất liệu bình thường dùng vào cái khác trên thị trường. Do đó, chúng ta sẽ xem xét một thành phần thay thế là một nguyên liệu thô mà nó không được sử dụng trong công thức thức ăn trên cơ sở thông thường, có thành phần dinh dưỡng thay đổi một chút và tại sao mức bao gồm không được định nghĩa rõ ràng hoặc không được biết. Những điểm sau đây được coi là những yếu tố khác nhau khi quyết định đến việc mua và sử dụng các thành phần thức ăn thay thế.

  1. Thành phần và chất lượng

            Đối với hầu hết các chất liệu thô, giá trị dinh dưỡng tiêu chuẩn cần được liệt kê trong bảng thành phần thực liệu hoặc trong tài liệu khoa học. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các thành phần được sản xuất với lượng nhỏ ở mức địa phương và điều được khuyến cáo là kiểm tra nhanh những nhà cung cấp riêng lẻ và xác nhận những điểm dinh dưỡng đặc trưng và chất lượng qua phân tích phòng thí nghiệm. Một sự phân tích gần với điểm đặc trưng phải bao gồm thông tin về độ ẩm, protein, mỡ, xơ, và lượng tro của chất liệu được nói đến. Sự phân tích khoáng đa lượng và các acid amin có thể cung cấp thêm chỉ dẫn về chất lượng sản phẩm.

  1. Độ biến động

            Rào cản đáng kể về việc sử dụng các thành phần thay thế nhiều trong các công thức thức ăn có thể là sự thay đổi chất dinh dưỡng. Điều quan trọng để biết nguồn và nhà cung cấp trong trường hợp này đi cùng với các chỉ tiêu dinh dưỡng chính xác được thu thập qua một thời gian đáng kể. Với độ biến động cao hơn, những mức bao gồm thấp thơn cần được xem xét như một biện pháp an toàn.

  1. Khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng

            Khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng và sự hữu dụng có liên quan đến phạm vi mà vật nuôi có thể tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng trong thực liệu đó. Nhiều thành phần có thể có lượng dinh dưỡng đáng kể nhưng chúng có thể không hữu dụng cho vật nuôi về sinh trưởng hoặc mục đích sản xuất. Một ví dụ về điều này có thể là bột lông vũ, tuy có mức protein cao nhưng lại có lượng thấp hoặc mất cân đối của các acid amin hữu dụng.

            Các thành phần nhận được từ các phụ phẩm của ngành công nghiệp chế biến đã trải qua bước làm khô cần được xem xét kỹ lưỡng. Sử dụng các nghiên cứu về khả năng tiêu hóa, phân tích phòng thí nghiệm, xem xét các báo cáo khoa học và các dữ liệu của thành phần (được cộng tác do các nhà cung cấp các acid amin) là những nguồn thông tin hữu dụng. Sử dụng các chất cộng thêm (phụ gia) như các enzyme và các hợp chất tinh dầu cũng có thể được cân nhắc như phương tiện để cải thiện khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng nào đó ở các chất liệu thô thay thế.   

  1. Giá trị tương đối

            Giá trị tương đối của thành phần thức ăn có thể được dùng để so sánh giá trị dinh dưỡng của thực liệu với giá trị năng lượng tiêu chuẩn, protein, lysine hoặc phospho trên thị trường. Trong nhiều trường hợp, bắp và khô nành là tiêu chuẩn vàng hoặc là chuẩn cho tất cả các thành phần khác được so sánh. Giá trị tương đối này không xem xét về các mức bao gồm. Đúng hơn, đơn giản chỉ là chi phí trên đơn vị chất dinh dưỡng tại thời điểm đặc biệt.

  1. Sự thích hợp hoặc dạng nguyên liệu

            Trong một số trường hợp các thành phần hoặc thực liệu có thể có sẵn trên thị trường, nhưng dạng nguyên liệu có thể giới hạn khả năng chuyên chở, dự trữ hoặc chế biến nguyên liệu. Điều này có thể bao gồm các phụ phẩm, đó là trong tình trạng hoặc các thành phần lỏng mà không được làm khô hoàn toàn. Các hệ thống nuôi dưỡng có thể cần được tính toán lại hoặc thay đổi để cho phép sử dụng có hiệu quả những thành phần như thế. Những lượng ẩm cao có thể cũng pha loãng các giá trị dinh dưỡng của thức ăn và phải được tính trong thiết lập công thức thức ăn.

  1. Các yếu tố kháng dưỡng

            Các thành phần vốn có tự nhiên nào đó nhiễm trong các chất liệu thô nào đó có thể gây trở ngại cho sự tiêu hóa, trao đổi hoặc sức khỏe vật nuôi. Những ví dụ có thể bao gồm như các độc tố của nấm, các chất ức chế trypsin các loại tannin, lectin và glucosinolate.             

            Nếu có thể, các yếu tố kháng dưỡng này phải được xác định qua sự phân tích và quyết định sử dụng hoặc những lượng bao gồm được điều chỉnh phù hợp. Trong một số trường hợp, những chất phụ gia thức ăn nào đó như chất khử hoạt tính độc tố của nấm có thể được xem xét sử dụng để bảo vệ vật nuôi kháng lại những tác động độc hại của những thành phần như thế.

  1. Tính ngon miệng

            Điều này có liên quan đến khả năng của vật nuôi tiêu thụ dễ dàng nguyên liệu được xem xét. Những phần hợp thành nào đó có thể có những cấu thành vị đắng (ví dụ như khô dầu cải) hoặc không có mùi vị, do đó làm hạn chế ăn vào khi được bao gồm trong khẩu phần. Các chất phụ gia phytogenic trong thức ăn cải thiện được tính thèm ăn của thức ăn và có thể che giấu được mùi vị không làm ngon miệng.

  1. Không có mối nguy hiểm

            Tùy thuộc vào nguồn thực liệu hoặc dạng chế biến một số thành phần thay thế có thể chứa những chất liệu lạ, được xem là nguy hiểm cho vật nuôi tiêu thụ. Ví dụ, trong một số trường hợp, chất thải bỏ của lò nướng có thể chứa plastic hoặc chất liệu đóng gói khác có thể có trong sản phẩm. Những nguy hiểm khác để xem xét có thể là các kim loại nặng hoặc sự ô nhiễm hóa chất có thể hiện diện trong các thành phần như các khoáng.

  1. Quản lý và dự trữ

             Xem xét nguyên liệu thô cần phải bắt nguồn hoặc đề nghị trong quy trình nghiền thức ăn là hiệu quả chi phí và thành phần thích hợp cho việc sử dụng trong các quá trình lập công thức. Khoảng trống thùng, sắp xếp hàng vào kho và các sản phẩm có thể được dự trữ cần phải được xem xét trước khi mua vào một thành phần mới.

  1. Tính khả dụng và cung cấp ổn định

            Việc cung cấp đủ nguyên liệu đang được xem xét phải hiện hành trước việc lượng định chi phí và giá trị dinh dưỡng. Điều cần xác định là mối liên quan đến loại vật được nuôi ăn, khẩu phần, các mức bao gồm và số lượng thức ăn được sản xuất để tính được khối lượng tiềm năng được yêu cầu qua một giai đoạn.  

  1. Sự ổn định

            Khả năng các thành phần được dự trữ và duy trì chất lượng của chúng có tầm quan trọng đáng kể. Ví dụ, những sản phẩm có độ ẩm cao (15-25%) dễ xảy ra hư hỏng, lên men, phát triển nấm mốc và chất lượng dinh dưỡng bị giảm qua thời gian.

  1. Tỷ lệ bao gồm

            Lượng thành phần bao gồm trong công thức thức ăn có độ mở cao với cách hiểu và những điều kiện được bao gồm. Kinh nghiệm là vốn quý nhất trong việc bố trí các giới hạn về thành phần thay thế và mỗi nhà dinh dưỡng hay công ty có thể có bộ tập hợp đáng chú ý các phương pháp hoặc quan điểm về cách kết hợp chặt chẽ các nguyên liệu thô khác thường.    

            Các hướng dẫn về kinh doanh, các xuất bản hoặc báo cáo khoa học có thể trợ giúp phát triển các mức cơ sở của việc bao gồm nhưng điều này phải được thử thách để đạt được tiềm năng tiết kiệm chi phí lớn nhất. Nghiên cứu trên các mức bao gồm thành phần thay thế phải có tập trung quan trọng của người kết hợp nào đó hoặc nghiên cứu và chương trình phát triển của công ty thức ăn.

  1. Tác động trên chất lượng viên và thức ăn chung cuộc

            Các yếu tố như mức ẩm và độ lớn các tiểu phần của những thành phần khác nhau có thể ảnh hưởng đến quy trình sản xuất thức ăn. Những thực liệu đang được xem xét phải có tác động giới hạn đến chất lượng viên và không ảnh hưởng đến năng suất chung của thức ăn là thành phần thay thế có hiệu quả.

  1. Ảnh hưởng trên chất lượng thịt, trứng hoặc sữa

            Như trong viễn cảnh nêu trên, thực liệu này phải không truyền những ảnh hưởng tiêu cực nào đến những sản phẩm thực phẩm cuối cùng được sản xuất. Ví dụ, những lượng bột cá cao được biệt là gây mất mùi vị của các sản phẩm thịt, trứng, sữa do đó nó cần được giới hạn trong các công thức thức ăn.

  1. Chi phí

            Giá trị thực về tiết kiệm chi phí thức ăn tiềm năng có xu hướng là nhân tố lớn nhất trong việc xác định các thành phần dựa vào sự thay thế. Qua sự chú ý đặc biệt đến những chi tiết ở trên, việc biểu thị đặc điểm dinh dưỡng chính xác và sử dụng phần mềm thiết lập công thức thức ăn, giá thức ăn có hiệu quả chi phí nhất và các thiết lập công thức có thể được phát triển.

            Nếu năng suất vật nuôi không bị tổn thương và một công thức kinh tế hơn được đưa ra, điều này có thể dẫn đến chi phí sản xuất giảm thấp. Như đã được phác thảo, các yếu tố chi phí khác để xem xét ngoài giá của thành phần có thể là sự cần thiết cho việc dự trữ, chế biến và chuyên chở riêng biệt.

Kết luận

            Các thành phần thức ăn thay thế phải luôn được xem xét trong các thiết lập công thức thức ăn. Nói chung, khi có những nguyên liệu như thế có thể được xác định đặc điểm đúng cách thức và kết hợp vào khẩu phần vật nuôi trong khi không có sự giảm sút năng suất nào, chúng có thể là phương pháp quan trọng để giảm thấp chi phí thức ăn và sản xuất. Có nhiều nhân tố để đánh giá về việc sử dụng các thành phần thay thế. Khi được sử dụng hợp lý, lợi nhuận tài chính của các thành phần thức ăn thay thế có thể là đáng kể đối với các hoạt động nuôi dưỡng vật nuôi.

PGS Bùi Xuân Mến (R&D Vemedim) lược dịch và tóm tắt.

Tài liệu tham khảo

Nernberg L (2018) 15 factors to consider when evaluating and using alternative.

http://www.biomin.net/en/articles/15-factors-to-consider-when-evaluating-and-using-alternative-ingredients/

t g
0775 009 169
m